Một hộ gia đình sử dụng hệ thống lọc nước RO tại vòi để loại bỏ tạp chất và làm mềm nước trước khi sử dụng. Để bảo vệ màng lọc RO khỏi bị đóng cặn bởi các ion Ca2+ và Mg2+ trong nước cứng, một cột chứa hạt nhựa trao đổi ion cationite dạng R-SO3Na được lắp đặt phía trước màng lọc.
PTHH xảy ra như sau: 2R-SO3Na + Ca2+ → (R-SO3)2Ca + 2Na+
a) Một gia đình dùng 600 L nước/ngày, chứa trung bình 120 mg/L Ca2+ và 24 mg/L Mg2+. Cột lọc chứa 360 gam R-SO3Na, có khả năng trao đổi tổng cộng 0,05 mol ion hóa trị II trên mỗi 1 g hạt. Cột lọc này có thể sử dụng tối đa trong 10 ngày trước khi bão hòa.
b) Phản ứng trao đổi ion giữa cationite R-SO3Na và ion Ca2+ trong nước có phương trình: 2R-SO3Na + Ca2+ → (R-SO3)2Ca + 2Na+.
Cho thấy 1 mol Ca2+ trao đổi với 2 mol Na+ và giải phóng Na+ vào nước, góp phần làm tăng độ dẫn điện của nước đầu ra.
c) Khi sử dụng cationite dạng R-H thay vì R-SO3Na để làm mềm nước, pH nước đầu ra có xu hướng giảm do ion H+ được giải phóng vào nước trong quá trình trao đổi.
d) Một cột lọc nước chứa 250 g hạt cationite R-SO3Na có khả năng trao đổi tối đa 0,04 mol ion Ca2+ cho mỗi 1g hạt. Nếu nguồn nước chứa 160 mg/L ion Ca2+, thể tích nước tối đa (L) mà cột có thể làm mềm hoàn toàn là 625 L.
(a) Sai
nM2+ lọc được = 360.0,05 = 18 mol
Mỗi ngày cần lọc nM2+ = 600(120/40 + 24/24) = 2400 mmol = 2,4 mol
Số ngày sử dụng = 18/2,4 = 7,5 ngày
(b) Đúng, quá trình trao đổi cho thấy 1 mol Ca2+ được thay thế bởi 2 mol Na+ —> Số lượng hạt mang điện tăng nên độ dẫn điện tăng. Mặt khác, Na+ nhỏ bé hơn Ca2+ nên di chuyển dễ dàng hơn cũng làm tăng độ dẫn điện.
(c) Sai, dạng RH (hydrocarbon) không thể thực hiện phản ứng trao đổi, phải là dạng RSO3H mới có thể trao đổi. Nếu dùng dạng RSO3H thì đúng là pH giảm do H+ được giải phóng thế chỗ M2+.
(d) Sai
nCa2+ lọc được = 250.0,04 = 10 mol = 10000 mmol
Nồng độ 160 mg/L = 4 mmol/L
—> Thể tích nước lọc được = 10000/4 = 2500 L