Con ong làm mật, yêu hoa. Ong sử dụng những chiếc vòi của mình hút mật từ hoa và lưu trữ nó trong túi dạ dày đặc biệt. Mỗi túi mật có thể lưu trữ đến gần 70 mg. Để đầy đủ túi dạ dày, mỗi con ong cần từ 100 đến 1500 bông hoa, tùy thuộc vào loại hoa và năng lượng cần thiết. Sau khi túi dạ dày đầy, chúng trở về tổ và chuyển mật hoa cho những con ong thợ khác, ong thợ nhận mật hoa và lưu giữ trong miệng của mình. Sau đó, trong khoảng nửa tiếng, chúng “nhai” mật hoa, cho phép enzim trong miệng phân hủy các loại đường phức tạp trong mật hoa thành các loại đường đơn giản.
a) Trong thành phần mật ong có đường fructose, đường glucose, nước, vitamin, khoáng chất…
b) Không nên đựng mật ong trong những chai bằng kim loại, do dưới tác dụng của enzyme, một phần đường trong mật ong sẽ biến thành acid. Chất này ăn mòn lớp kim loại làm tăng hàm lượng kim loại trong mật ong, làm mật biến chất không tốt cho sức khỏe.
c) Trong quá trình lưu trữ mật ong, vẫn 1 lượng nhỏ đường lên men C6H12O6 → 2C2H5OH + 2CO2, nên mật ong để lâu có hiện tượng sủi bọt khí
d) Glucose và fructose trong mật ong đều tác dụng được với CH3OH (xt HCl; t°), nước bromine, thuốc thử tollens.
(a) Đúng, đường fructose, đường glucose là các thành phần chính của mật ong, ngoài ra còn có nước, vitamin, khoáng chất…
(b) Đúng, với hàm lượng đường cao, mật ong có thể bị acid hóa bởi enzyme. Acid có thể oxi hóa kim loại thành ion kim loại và phân tán vào mật ong khiến mật ong giảm giá trị và hương vị, tiềm ẩn nguy cơ gây hại khi sử dụng.
(c) Đúng, khi mật ong để lâu sẽ bị sủi bọt CO2 do quá trình lên men rượu tạo ra.
(d) Sai, glucose và fructose đều tác dụng được với CH3OH (xt HCl; t°), thuốc thử tollens nhưng chỉ glucose phản ứng với Br2.