Trong y học cổ truyền, việc bảo quản các loại dược liệu (như táo tàu, đẳng sâm, bạch chỉ,…) sau thu hoạch là khâu then chốt. Người sản xuất thường dùng phương pháp “xông sinh” (đốt lưu huỳnh dạng bột để tạo khí SO2 rồi cho dược liệu xông hơi SO2).
Khí SO2 là một chất bảo quản hiệu quả, tuy nhiên, nếu dư lượng sulfur dioxide tồn dư vượt quá ngưỡng an toàn, hợp chất này có thể gây kích ứng đường hô hấp, ảnh hưởng đến chức năng gan, thận và gây dị ứng cho người bệnh.
Theo quy định của Dược điển Việt Nam V, hàm lượng lưu huỳnh dioxide (SO2) tồn dư tối đa cho phép trong mẫu dược liệu khô bạch chỉ không được vượt quá 150 mg/kg (tương đương 150 ppm).
Để kiểm tra chất lượng của một lô bạch chỉ khô, các kiểm nghiệm viên tiến hành phân tích theo phương pháp Monier – Williams cải tiến:
• Bước 1: Cân chính xác 20,0 gam mẫu bạch chỉ đã xay nhỏ cho vào bình cầu đáy tròn hai cổ, thêm 200 mL nước cất và 20 mL dung dịch HCl 6 M.
• Bước 2: Đun hồi lưu hỗn hợp, đồng thời sục liên tục dòng khí trơ nitrogen (N2) để giải phóng và cuốn toàn bộ khí SO2 thoát ra.
• Bước 3: Toàn bộ dòng khi được dẫn sục vào bình hấp thụ chứa sẵn 50 mL dung dịch H2O2 3% (lấy dư). Tại đây SO2 bị hấp thụ và chuyển hóa hoàn toàn thành dung dịch H2SO4.
• Bước 4: Lấy toàn bộ dung dịch trong bình hấp thụ, thêm vài giọt chỉ thị phenolphtalein, sau đó chuẩn độ lượng acid tạo thành bằng dung dịch chuẩn NaOH 0,020 M. Thể tích dung dịch NaOH tiêu tốn vừa đủ đến khi chỉ thị đổi màu là 18,75 mL. (Thực hiện một thí nghiệm mẫu trắng song song trong cùng điều kiện không có mẫu dược liệu, thể tích dung dịch NaOH tiêu thụ không đáng kể coi như bằng 0 mL).
a. Tại sao SO2 lại có tác dụng bảo quản dược liệu, hạn chế sự biến đổi màu của dược liệu?
b. Mẫu bạch chỉ nói trên có đảm bảo tiêu chuẩn theo Dược điển Việt Nam V không?
c. Theo em, để đảm bảo an toàn cho người dân sử dụng dược liệu, việc bảo quản dược liệu có thể tiến hành bằng những phương pháp nào?
d. Từ thông tin của đề bài, hãy đưa ra khuyến cáo cho người thân của em khi sử dụng dược liệu (như mua thuốc bắc về sắc, về ngâm rượu…).
(a) Màu sắc của dược liệu bị thay đổi do dược liệu bị oxi hóa bởi O2 hoặc các chất oxi hóa có trong chính dược liệu. SO2 có tính khử sẽ khử các chất oxi hóa này, giúp dược liệu giữ được màu sắc và chất lượng như ban đầu.
SO2 cũng có tác dụng ức chế vi sinh vật và nấm mốc, góp phần kéo dài thời gian bảo quản.
(b)
Phản ứng: SO2 + H2O2 —> H2SO4
H2SO4 + 2NaOH —> Na2SO4 + 2H2O
nNaOH = 18,75.0,02 = 0,375 mmol —> nSO2 = 0,1875 mmol —> mSO2 = 12 mg
m nguyên liệu = 20 gam = 0,02 kg
Hàm lượng SO2 = 12/0,02 = 600 mg/kg > 150 mg/kg nên không đảm bảo tiêu chuẩn theo Dược điển Việt Nam V (cao gấp 4 lần mức cho phép).
(c) Để đảm bảo an toàn cho người dân sử dụng dược liệu, việc bảo quản dược liệu có thể tiến hành:
– Kiểm soát vệ sinh trong quá trình thu hái, sơ chế và bảo quản để hạn chế nấm mốc, côn trùng và vi sinh vật.
– Phơi, sấy đúng kỹ thuật để giảm nhanh độ ẩm của dược liệu.
– Bảo quản trong bao bì kín, sạch, khô, hạn chế hơi ẩm và oxygen.
– Bảo quản ở nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, tránh ánh sáng trực tiếp.
Nếu sử dụng chất bảo quản như SO2 thì phải kiểm soát liều lượng và kiểm nghiệm dư lượng trước khi đưa dược liệu ra sử dụng. Không nên tự ý xông lưu huỳnh theo kinh nghiệm, vì lượng SO2 tồn dư phụ thuộc rất nhiều vào lượng sulfur sử dụng, thời gian xông, độ ẩm và điều kiện bảo quản.
(d) Khuyến cáo khi mua và sử dụng dược liệu:
– Nên mua dược liệu từ cơ sở có nguồn gốc rõ ràng, có kiểm soát chất lượng.
– Không nên mua dược liệu có màu sắc bất thường.
– Không nên mua dược liệu có mùi hắc nồng bất thường, bị ẩm, mốc hoặc có dấu hiệu biến chất.
Nên sử dụng dược liệu theo hướng dẫn của thầy thuốc/bác sĩ y học cổ truyền có chuyên môn, nhất là khi dùng đồng thời nhiều dược liệu hoặc dùng cùng thuốc điều trị khác.