Xà phòng và chất giặt rửa được sử dụng rộng rãi trong đời sống: rửa tay, giặt quần áo, rửa chén bát, lau sàn,… Cơ chế giặt rửa của xà phòng và chất giặt rửa được mô tả như sau:

Cho các phát biểu sau:
(a) Các chất CH3[CH2]11C6H4SO3Na và CH3[CH2]11OSO3Na là xà phòng.
(b) Cấu tạo chung của xà phòng và chất giặt rửa phổ biến gồm hai phần: một phần ưa nước nối với một phần kị nước, trong đó phần kị nước là các gốc hydrocarbon mạch dài (R) không tan trong nước.
(c) Saponin trong quả bồ hòn và quả bồ kết có khả năng giặt rửa. Khi tiếp xúc với nước, saponin tạo ra lớp bọt nhẹ tương tự xà phòng.
(d) Xà phòng bị giảm tác dụng giặt rửa khi dùng với nước cứng vì tạo kết tủa với cation Mg2+, Ca2+.
(e) Khi cho xà phòng, chất giặt rửa vào nước sẽ tạo thành dung dịch có sức căng bề mặt nhỏ làm cho vật cần giặt rửa dễ thẩm ướt.
Số phát biểu đúng là
A. 4. B. 2. C. 5. D. 3.
(a) Sai, CH3[CH2]11C6H4SO3Na và CH3[CH2]11OSO3Na đều là chất giặt rửa tổng hợp, không phải xà phòng. Xà phòng là muối sodium hoặc potassium của các acid béo, ví dụ CH3[CH2]16COONa…
(b) Đúng, phân tử xà phòng và chất giặt rửa có cấu trúc gồm hai phần: đuôi hydrocarbon mạch dài không cực, kị nước (tan tốt trong dầu mỡ) và đầu phân cực ưa nước (-COO–, -SO3–, -OSO3–).
(c) Đúng, saponin trong quả bồ hòn, bồ kết là chất giặt rửa tự nhiên, có khả năng giảm sức căng bề mặt của nước và tạo bọt giúp làm sạch bẩn.
(d) Đúng, các kết tủa, ví dụ (CH3[CH2]16COO)2Ca làm hao tốn xà phòng, giảm tác dụng giặt rửa, cứng vải và vải mau mục.
(e) Đúng, các phân tử xà phòng và chất giặt rửa tập trung ở bề mặt phân cách, làm giảm sức căng bề mặt của nước, giúp nước dễ thấm ướt vào bề mặt vải.