0 bình luận

Lithium được mệnh danh là “vàng trắng” của thế kỷ XXI, là thành phần cốt lõi không thể thay thế trong pin lithium – ion của xe điện, điện thoại và các hệ thống lưu trữ năng lượng tái tạo. Trong vỏ Trái Đất, lithium chiếm tỉ lệ rất nhỏ và thường tồn tại tập trung trong các khoáng vật pegmatite như spodumene (LiAlSi2O6). Quy trình tách và tinh chế lithium từ quặng đòi hỏi khâu xử lý hoá học phức tạp bằng acid mạnh ở nhiệt độ cao, sinh ra lượng chất thải rắn lớn cần được quản lý nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn môi trường. Một cơ sở tuyển khoáng tiến hành xử lý 10 tấn quặng spodumene chứa 74,4% LiAlSi2O6 về khối lượng (còn lại là tạp chất trơ không chứa lithium). Đầu tiên quặng được nung ở 1050°C, sau đó nghiền nhỏ và trộn với dung dịch H2SO4 98% dư, nung ở 250°C để phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được hỗn hợp rắn Li2SO4, Al2(SO4)3 và SiO2. Hòa tan sản phẩm vào nước, tách bỏ phần bã rắn (SiO2), sau đó dùng Ca(OH)2 để trung acid dư và loại bỏ ion Al3+, tiếp theo dùng Na2CO3 để loại bỏ Ca2+, cuối cùng thêm Na2CO3 đặc ở gần 100°C để kết tinh hoàn toàn Li2CO3 dưới dạng sản phẩm thương mại.
a) Viết phương trình hoá học xảy ra giữa quặng spodumene với dung dịch H2SO4 đặc. Tại sao công đoạn kết tinh Li2CO3 lại cần thực hiện ở nhiệt độ gần 100°C?
b) Tính khối lượng muối Li2CO3 thu được từ 10 tấn quặng spodumene ở trên. Biết hiệu suất của toàn bộ quá trình tinh chế đạt 85%.
c) Để trung hòa hoàn toàn lượng acid H2SO4 dư và kết tủa hết ion Al3+ trong dung dịch sau khi hòa tan (trước giai đoạn thu Li2CO3), người ta phải dùng vừa đủ V (m³) dung dịch nước vôi Ca(OH)2 0,02 M. Biết lượng dung dịch H2SO4 98% ban đầu được lấy dư 20% so với lượng cần thiết phản ứng. Tính khối lượng (tấn) H2SO4 98% đã dùng và giá trị của V.

Neo Pentan đã chọn trả lời tốt nhất