0 bình luận

Điện di là phương pháp tách, phân tích các tiểu phân mang điện tích dựa trên tốc độ di chuyển khác nhau của chúng trong điện trường ở một giá trị pH xác định. Trong y học và công nghệ thực phẩm, người ta ứng dụng phương pháp điện di trên gel ở pH = 6,0 để kiểm tra độ tinh khiết và tách riêng một hỗn hợp gồm ba protein có vai trò sinh học quan trọng gồm: Casein (protein chính trong sữa, pHI = 4,6), myoglobin (protein vận chuyển oxygen trong cơ, pHI = 6,0) và lysozyme (enzyme kháng khuẩn trong lòng trắng trứng, pHI = 11,0). Biết rằng điểm đẳng điện (pHI) là giá trị pH mà tại đó phân tử amino acid, peptide hoặc protein tồn tại chủ yếu ở dạng ion lưỡng cực với tổng điện tích bằng 0.
Cho các phát biểu về ứng dụng và kết quả thực hiện điện di hỗn hợp trên tại pH = 6,0:
(a) Lysozyme tồn tại dạng ion tích điện dương, di chuyển về cathode nên có thể tách ra khỏi hỗn hợp để thu hồi enzyme tinh khiết dùng trong y dược.
(b) Myoglobin chủ yếu tồn tại ở dạng ion lưỡng cực có tổng điện tích bằng 0, không di chuyển trong điện trường, giúp nhận biết sự có mặt của protein này tại vị trí giếng tra mẫu (vạch gốc).
(c) Casein tồn tại dạng ion tích điện âm, di chuyển về cực dương (anode), ứng dụng để tách và định lượng hàm lượng casein trong việc kiểm định chất lượng sữa.
(d) Nếu hạ pH của dung dịch đệm (dung dịch có độ pH ổn định khi thêm một lượng nhỏ acid hoặc base vào dung dịch) điện di xuống 3,0 thì cả ba chất đều di chuyển về cực âm với tốc độ bằng nhau nên không thể tách riêng được nữa.
Những phát biểu đúng là

A. (a), (b) và (c).       B. (b) và (c).        C. (b) và (d).       D. (a), (b), (c) và (d).

Neo Pentan đã chọn trả lời tốt nhất