Kevlar là một polyamide có độ bền rất cao. Loại vật liệu này được dùng để sản xuất áo chống đạn và mũ bảo hiểm cho quân đội. Một đoạn mạch của Kevlar được mô tả như hình sau:

a) Benzene-1,4-diamine thuộc arylamine.
b) Trong số monomer điều chế Kevlar có một monomer có tính acid và một monomer có tính lưỡng tính.
c) Kevlar được tổng hợp trực tiếp từ benzene-1,4-dioic acid với benzene-1,4-diamine bằng phản ứng trùng hợp.
d) Để sản xuất được 15 tấn kevlar với hiệu suất của cả quá trình sản xuất là 86% thì tổng khối lượng tối thiểu của 2 monomer cần dùng là 20 tấn (kết quả làm tròn đến hàng đơn vị).
(a) Đúng, benzene-1,4-diamine có các nhóm -NH2 gắn trực tiếp vào vòng benzene nên thuộc loại arylamine.
(b) Sai, monomer HOOCC6H4COOH chỉ có tính acid, monomer H2NC6H4NH2 chỉ có tính base, không monomer nào có tính lưỡng tính.
(c) Sai, kevlar được tổng hợp bằng phản ứng trùng ngưng benzene-1,4-dioic acid (HOOCC6H4COOH) với benzene-1,4-diamine (H2NC6H4NH2).
(d) Đúng, phản ứng:
nC6H4(COOH)2 + nC6H4(NH2)2 —> Kevlar + 2nH2O
Tỉ lệ: 274 kg monomer tạo ra 238 kg Kevlar
H = 86% —> mmonomer tối thiểu = 15.274/(238.86%) = 20 tấn