Khi phân tích mẫu nước tại bãi chôn lấp rác thu được kết quả sau:
| Các chỉ tiêu | Hàm lượng nước ở bãi rác | Tiêu chuẩn cho phép |
| pH | 7,71 – 7,88 | 5,50 – 9,00 |
| NH4+ (mg/L) | 22,3 – 200 | 1,0 |
| CN– (mg/L) | 0,012 | 0,100 |
Theo kết quả phân tích, ta thấy hàm lượng ion ammonium (NH4+) trong nước ở bãi rác quá cao so với tiêu chuẩn cho phép. Vì vậy, cần xử lý ion ammonium (NH4+) trong nước ở bãi rác trước khi thải ra môi trường.
a. Hàm lượng NH4+ cao trong nước rỉ rác là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng.
b. Hàm lượng ion ammonium (NH4+) trong nước tại bãi rác chôn lấp cao hơn tiêu chuẩn cho phép gấp 200 lần
c. Nếu hàm lượng NH4+ tối đa là 200 mg/L và sau khi xử lý còn lại 1 mg/L, hiệu suất xử lý là 85%.
d. Chỉ tiêu pH và hàm lượng cyanide (CN–) đều nằm trong giới hạn cho phép, nên sự hiện diện của NH4+ với nồng độ cao không gây ảnh hưởng đến chất lượng nước, hệ sinh thái và sức khỏe con người.
(a) Đúng, chính xác hơn thì hàm lượng NH4+ cao trong nước rỉ rác là một trong những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng. Hiện tượng phú dưỡng đòi hỏi sự kết hợp cả 2 nguyên tố N, P và tùy khu vực, hiện tượng phú dưỡng có thể đến từ phân bón dư thừa.
(b) Sai, gấp 200 lần là đỉnh điểm, kết quả cho thấy tùy thời điểm đo, hàm lượng ion ammonium (NH4+) trong nước tại bãi rác chôn lấp cao hơn tiêu chuẩn cho phép gấp 22,3 đến 200 lần.
(c) Sai, hiệu suất xử lý = (200 – 1)/200 = 99,5%
(d) Sai, mặc dù pH và hàm lượng CN− nằm trong giới hạn cho phép, nồng độ NH4+ quá cao vẫn có thể gây ô nhiễm nước, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh và sức khỏe con người. Ngoài ra, NH4+ có thể chuyển hóa thành NH3 độc đối với sinh vật thủy sinh tùy thuộc vào pH và nhiệt độ.