Silicon (14Si) là nguyên tố có nhiều ứng dụng quan trọng trong công nghệ hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực vật liệu bán dẫn.
a) Phổ khối của Si tự nhiên được biểu diễn như hình bên.

– Si tự nhiên có bao nhiêu đồng vị?
– Tính nguyên tử khối trung bình của Si.
b) Phương pháp pha tạp bằng biến đổi neutron (Neutron Transmutation Doping – NTD) là một công nghệ tiên tiến trong ngành bán dẫn để tạo ra bán dẫn loại n – vật liệu cốt lõi để chế tạo các linh kiện điện tử công suất lớn. Khi đặt thỏi silicon siêu tinh khiết trong lò phản ứng hạt nhân, đồng vị 30Si sẽ hấp thụ một neutron tạo nguyên tử X; X sau đó tự động phóng xạ beta và biến đổi thành nguyên tử Y. Nguyên tử Y mới sinh đóng vai trò là chất cho điện tử (electron donor), tạo ra electron dẫn trong chất bán dẫn loại n. Xác định X, Y và viết hai phương trình hạt nhân mô tả quá trình NTD.
c) Ngay sau chiếu xạ, một mẫu chứa 8,00.1014 nguyên tử X. Sau 7,86 giờ, tính:
– Số nguyên tử X còn lại.
– Số electron dẫn nếu mỗi nguyên tử Y tạo thành đều đóng góp 1 electron.
Biết: chu kỳ bán hủy (t½ là thời gian cần thiết để một nửa lượng chất ban đầu bị phân hủy) của X là 2,62 giờ, biểu thức liên hệ giữa số nguyên tử X còn lại (At) sau t giờ so với tổng số nguyên tử X ở thời điểm ban đầu (A0) là:

d) Các hợp chất SiCl4 và YH3 có nhiệt độ sôi lần lượt là 57,6°C và -87,7°C.
– Viết công thức Lewis, công thức VSEPR, dự đoán dạng hình học phân tử của SiCl4 và YH3.
– Dự đoán tính phân cực của mỗi phân tử. Vì sao SiCl4 có nhiệt độ sôi cao hơn YH3?
(a)
Si tự nhiên có 3 đồng vị với số khối lần lượt là 28, 29, 30.
Nguyên tử khối trung bình của Si = 28.92,2% + 29.4,7% + 30.3,1% = 28,109 amu
(b) X là 1431Si; Y là 1531P. Phản ứng:
1430Si + 01n → 1431Si
1431Si → 1531P + -10e
(c)
At = A0 × 2(-t/t½) = 1014 nguyên tử.
Số electron dẫn = Số nguyên tử Y tạo thành = Số nguyên tử X phản ứng = 8.1014 – 1014 = 7.1014 (hạt)
(d) Công thức Lewis của SiCl4 và PH3:

SiCl4 có công thức VSEPR là AX4, dạng hình học tứ diện đều.
PH3 có công thức VSEPR là AX3E, dạng hình học tháp tam giác.
SiCl4 có dạng tứ diện đều, 4Cl ở 4 đỉnh và P ở tâm nên có tính đối xứng cao, sự phân cực của từng liên kết Si-Cl bị triệt tiêu hoàn toàn —> Phân tử SiCl4 không phân cực.
Với PH3, dù độ âm điện của P ≈ H nhưng do 3H nằm về cùng một phía so với đôi electron tự do chưa liên kết nên phân tử phân cực hơn.
SiCl4 có nhiệt độ sôi cao hơn PH3 do khối lượng phân tử lớn hơn rất nhiều nên tương tác van der Waals lớn hơn, cần nhiều năng lượng hơn để phá vỡ các liên kết này.