Thí nghiệm điều chế và thử tính chất của khí X được thực hiện như hình vẽ sau:

a) Dung dịch Br2 bị nhạt màu dần sau mất màu, nếu thay dung dịch Br2 thành dung dịch KMnO4 sẽ xuất hiện kết tủa.
b) Khí X thoát ra là hormone sinh trưởng của thực vật.
c) Bông tẩm dung dịch NaOH có tác dụng hấp thụ khí SO2 và CO2.
d) Đá bọt được sử dụng là CaCO3 tinh khiết có tác dụng làm tăng đối lưu trong hỗn hợp phản ứng.
Khí X là C2H4:
C2H5OH (H2SO4 đặc, t°) —> C2H4 + H2O
(a) Đúng, X làm nhạt màu dung dịch Br2, tạo kết tủa nâu đen với KMnO4:
C2H4 + Br2 —> C2H4Br2
3C2H4 + 4H2O + 2KMnO4 —> 3C2H4(OH)2 + 2KOH + 2MnO2
(b) Đúng, C2H4 kích thích hô hấp tế bào, làm tăng nhanh quá trình chuyển hóa tinh bột thành đường, làm mềm quả, phân hủy diệp lục và tổng hợp sắc tố (giúp quả chuyển sang màu vàng/đỏ) ở các loại quả chín.
(c) Đúng, phản ứng sinh ra các sản phẩm phụ CO2, SO2 (do C2H5OH bị H2SO4 đặc oxi hóa). SO2 kà khí độc, nó cũng có tính khử nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả các thí nghiệm thử tính chất của C2H4, vì vậy để ngăn các khí này thoát ra ngoài, ta dùng bông tẩm dung dịch NaOH đặt tại miệng ống để lọc.
(d) Sai, trong môi trường phản ứng có H2SO4 nên ta không dùng đá bọt là đá vôi. Đá bọt tạo mầm sôi, điều hòa sôi, giúp chất lỏng sôi êm dịu nhưng không tham gia phản ứng, vì vậy trong trường hợp này ta có thể dùng cát sạch hoặc vụn thủy tinh làm đá bọt.